Thứ Hai, 19/08/2019
064.358.3925 (VT)  
Chinese Vietnamese

CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẨU CẦU TRE

Thứ Tư, 23/10/2013 10:00
PDF. Print. Print.

CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẨU CẦU TREĐịa chỉ: 125/208 Lương Thế Vinh, P. Tân Thới Hòa, Q.Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh

 

Điện thoại: +84-8 39612544

 

Fax: +84 8 39612057

 

Email:  cautrejsco@cautre.vn

 

Website: cautre.com.vn

 

 

Giới thiệu

 

Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre (Tiền thân là Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre) được xây dựng từ năm 1982, trên diện tích gần 80.000m2, trong đó hơn 30.000m2 là các xưởng sản xuất với nhiều trang thiết bị hiện đại. Sản phẩm của Công ty rất đa dạng và phong phú, chế biến từ các nguyên liệu thủy hải sản và nông sản được tiêu thụ trên toàn quốc thông qua các hệ thống siêu thị và đại lý phân phối. Ngoài ra sản phẩm của Cầu Tre được xuất đi qua nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mỹ, Canada,...Công ty đang áp dụng chương trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, áp dụng ISO 9001:2000 được công nhận bởi tổ chức TUV cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Với kinh nghiệm gần 30 năm sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, Cầu Tre chúng tôi có thể sản xuất ra những sản phẩm thích hợp với thị hiếu của từng thị trường, cũng như những yêu cầu của khách hàng. Trong những năm qua. Công ty đã từng bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, chất lượng sản phẩm là vấn đề hàng đầu được Công ty hết sức coi trọng.

 

Lịch sử hình thành và phát triển

 

Lịch sử hình thành

 

Trong hơn hai thập kỷ qua, Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, bên cạnh nhiều thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn nhưng một đặc điểm khá nhất quán là dù ở bất cứ hoàn cảnh nào Công ty cũng đều thể hiện được tính tự lực, khả năng sáng tạo và cố gắng vượt khó của mình với tinh thần đoàn kết cao của một tập thể luôn gắn bó với nhau và gắn bó với sự nghiệp chung của Công ty. Nhờ vậy Cầu Tre đã vượt qua nhiều khó khăn trong trong quãng đường dài phát triển.

 

1. Sơ lược về công ty Direximco, tiền thân của Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre:

 

1.1 Nói đến Cầu Tre không thể không nhắc đến Direximco. Công Ty Direximco ra đời trong bối cảnh của những năm 1979 - 1980, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thành phố lâm vào tình trạng bán đình đốn do thiếu nguyên liệu, thiếu phụ tùng thay thế, công nhân thiếu việc làm và Nhà nước phải giải quyết những hậu quả tất yếu của một đất nước vừa thoát ra khỏi chiến tranh kéo dài hàng chục năm lại đang phải đương đầu với một cuộc chiến mới ở cả hai phía: biên giới Bắc và Tây Nam.

 

Sau khi có Nghị quyết 06 của Trung Ương và Nghị quyết 26 của Bộ Chính Trị, trước đòi hỏi bức xúc của tình hình chung, cuối tháng 04 năm 1980, Thành Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố chủ trương cho thành lập Ban Xuất Nhập Khẩu thuộc Liên Hiệp Xã TTCN Thành phố. Qua một năm làm thử nghiệm với một số thương vụ xuất nhập khẩu theo cung cách mới chứng tỏ có tác dụng tích cực và đem lại hiệu quả kinh doanh tốt, Thành phố ra Quyết định số 104/QĐ-UB ngày 30.05.1981 cho phép thành lập Công Ty Sài gòn Direximco, cùng lúc với 3 Công ty xuất nhập khẩu khác (Cholimex, Ramico, Ficonimex) trên địa bàn Thành phố.

 

1.2 Trong tình hình ngân sách Thành phố còn rất eo hẹp, theo tinh thần chỉ đạo của Thành Uỷ và UBND Thành phố, Direximco hoạt động tự lực cánh sinh với phương châm ''hai được" (được phép huy động vốn trong dân và vốn nước ngoài; được phép đề xuất chính sách cụ thể, được xét duyệt ngay) và ''hai không'' (không lấy vốn ngân sách Nhà nước; không vay quỹ ngoại tệ xuất nhập khẩu). Đây là chủ trương đầy tính sáng tạo và dũng cảm trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ.

 

Với cách làm linh hoạt, đi từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, Direximco đã có những bước phát triển nhảy vọt về kim ngạch xuất nhập khẩu. Đồng thời, Direximco đã tạo được khoản lãi và chênh lệch giá 1,6 tỉ đồng. Vào thời điểm đầu thập kỷ 80, đây là một khoản tiền rất lớn.

 

1.3 Trong thời kỳ hoạt động của Direximco, mặc dù kinh doanh là chủ yếu, nhưng Ban lãnh đạo Công Ty đã nhận thức được xu hướng các tỉnh sẽ dần dần tiến lên tự làm xuất nhập khẩu, nhất là xuất thô và sơ chế, giảm dần phụ thuộc vào Thành phố, từ đó đặt ra yêu cầu Direximco phải tổ chức cho được một số cơ sở sản xuất của chính mình để chủ động có nguồn hàng xuất ổn định lâu đài, có hiệu quả kinh doanh cao trên cơ sở dựa vào tiềm năng và thế mạnh về mặt khoa học kỹ thuật, tay nghề của Thành phố thông qua làm hàng xuất khẩu tinh chế. Quyết định đầu tư xây dựng cơ sở chế biến hàng xuất khẩu là thể hiện ý đồ chiến lược này.

 

2. Chuyển thể từ Direximco sang Xí nghiệp Cầu Tre:

 

2.1 Sau khi có Nghị quyết 01/NQ-TW ngày 14 tháng 09 năm 1982 của Bộ Chính Trị, căn cứ vào Nghị quyết hội nghị Ban Thường Vụ Thành Uỷ bàn về công tác xuất nhập khẩu (Thông báo số 12/TB-TU ngày 28 tháng 04 năm 1983), Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố đã ra Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 01 tháng 06 năm 1983 chuyển Công Ty xuất nhập khẩu Trực dụng Công nghiệp Saigon Direximco thành Xí Nghiệp Quốc Doanh Chế Biến Hàng Xuất Khẩu Cầu Tre (Xí nghiệp Cầu Tre).

 

Theo Quyết định nói trên, Xí Nghiệp là một đơn vị sản xuất chế biến để cung ứng xuất khẩu trực thuộc Sở Ngoại Thương Thành phố. Mặt hàng của Xí Nghiệp gồm một số loại hải sản khô, đông lạnh và một số hàng khác được quy định cụ thể trong kế hoạch hàng năm của Xí Nghiệp.

 

Sau nhiều đợt tổ chức lại ngành Ngoại thương Thành phố, Xí Nghiệp lần lượt trực thuộc Tổng Công Ty Xuất nhập khẩu Thành phố (IMEXCO), Ban Kinh tế Đối Ngoại, Sở Kinh tế Đối Ngoại, Sở Thương Mại và Tổng Công Ty Thương Mại Saigon.

 

Vào thời điểm chuyển thể, tình hình tài sản của Direximco rất khả quan, gồm nhiều tài sản cố định có giá trị cao, nhất là một quỹ hàng hóa lớn.

 

Direximco đã chuyển giao toàn bộ tài sản cho Sở Ngoại Thương, trong đó riêng hàng hoá nhập (sợi. nhựa, hoá chất, vv...) trị giá khoảng 10 triệu USD, 103 triệu đồng hàng hoá xuất khẩu, hơn 45 triệu đồng hàng công nghệ phẩm và 77 triệu đồng vốn bằng tiền.

 

Sở Ngoại Thương đã cắt giao lại cho Xí Nghiệp số vốn 218 triệu đồng, để làm vốn kinh doanh ban đầu, trong đó:

 

- Vốn cố định : 143 triệu đồng

 

- Vốn lưu động : 75 triệu đồng

 

Thật ra, các phần vốn '' do Ngân sách cấp'' nói trên thực chất chỉ là một phần trích trong khoản tích luỹ Direximco tạo được từ kết quả kinh doanh của mình. Sau đợt đổi tiền năm 1985, vốn cố định được quy ra thành 14,3 triệu đồng và qua các đợt đánh giá lại theo chủ trương của Bộ Tài Chánh và hàng năm Xí Nghiệp trích lãi để bảo toàn vốn, phần vốn nói trên là 11,8 tỉ đồng, chiếm khoảng 11,4 % tổng số vốn của Xí Nghiệp (Quyết toán năm 1997).

 

Riêng vốn lưu động (75 triệu đồng) vào cuối năm 1984, Xí Nghiệp đã hoàn trả lại đầy đủ cho Ngân sách.

 

Bằng nguồn vốn khiêm tốn được giao, với nỗ lực của bản thân, Xí Nghiệp đã từng bước đi lên, xây dựng được cơ ngơi thuộc loại quy mô tương đối lớn của Thành phố như ngày hôm nay.

 

Quá trình đi lên của Xí Nghiệp thật ra không đơn giản. Qua nhiều giai đoạn khác nhau, thuận lợi nhiều nhưng khó khăn không ít, thậm chí có lúc đòi hỏi Xí Nghiệp phải có sự chọn lựa một cách thật sáng suốt và phải có quyết tâm cao vượt qua thử thách để khỏi đi vào bế tắc.

 

CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA XÍ NGHIỆP

 

Hơn 20 năm hoạt động của Xí Nghiệp có thể chia thành ba giai đoạn chính:

 

1. Giai đoạn 1983- 1989:

 

Sản xuất khẩu kết hợp kinh doanh hàng nhập khẩu.Nét đặc trưng hoạt động giai đoạn này là kết hợp sản xuất hàng xuất khẩu với kinh doanh hàng nhập khẩu dưới hình thức chủ yếu dùng hàng nhập để đối lưu huy động hàng xuất, đồng thời dùng lãi và chênh lệch giá trong kinh doanh hàng nhập để hổ trợ làm hàng xuất khẩu.

 

Giai đoạn này có 2 thời kỳ

 

1.1 Thời kỳ 1983 -1987:

 

Xí nghiệp Cầu Tre là chân hàng cùa IMEXCO.

 

Theo Quyết định 73/QĐ-UB của UB Nhân dân Thành phố, sau khi chuyển thể từ Direximco, Xí Nghiệp Cầu Tre cũng như nhiều đơn vị làm hàng xuất khẩu khác của Thành phố đã trở thành ''chân hàng'' của IMEXCO, trong đó vai trò của IMEXCO là đầu mối. Ở khâu nhập, Xí Nghiệp thông qua IMEXCO dưới hình thức "hàng đối lưu" và trong phạm vi "quyền sử dụng ngoại tệ" của mình.

 

Trong điều kiện bộ máy IMEXCO chưa đủ mạnh, cơ chế quản lý còn mang tính bao cấp, quyền tự chủ về tài chánh và kế hoạch của Xí Nghiệp chưa được giải quyết rõ ràng, dứt khoát, hàng đối lưu thường chậm, dẫn đến trì trệ trong huy động nguyên liệu, tạo nguồn hàng xuất. Hoạt động của Xí Nghiệp bị ảnh hưởng không ít.

 

Mặt khác, trang thiết bị kỹ thuật và các phương tiện khác của Xí Nghiệp không theo kịp đà phát triển sản xuất đòi hỏi phải được khẩn trương tăng cường.

 

Trong 2 năm đầu, kim ngạch xuất khẩu đã chựng lại:

 

- 1983 (7 tháng cuối năm) 4,2 triệu USD

 

- 1984 7,5 triệu USD.

 

Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, một mặt Xí Nghiệp cố gắng tranh thủ ủng hộ của trên, một mặt tự lực phấn đấu để tìm cách ổn định sản xuất đưa hoạt động Xí Nghiệp đi lên.

 

Một trong những biện pháp chủ yếu phải làm ngay là đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mặc dù gặp khá nhiều khó khăn về vật tư, tiền vốn.Với phương châm "vừa xây dựng, vừa sản xuất", xây dựng xong đến đâu, đưa vào sản xuất đến đó, Xí Nghiệp đã sử dụng mặt bằng với hiệu quả tốt hơn. Cùng với tranh thủ sự tin cậy của khách hàng nước ngoài nhập chịu thiết bị trả chậm, Xí nghiệp đã có điều kiện nắm bắt thời cơ. Chiến dịch sò điệp với việc huy động hơn 12.000 tấn nguyên liệu, làm ra hơn l.000 tấn sản phẩm đông lạnh và khô hay kế hoạch làm mặt hàng thịt heo đông lạnh xuất cho Liên Xô gần 3.000 tấn trong 2 năm 1985 -1986 thành công tốt đẹp đã minh chứng cụ thể cho cách làm sáng tạo này. Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu năm 1985 - 1987 đã có sự gia tăng đáng kể:

 

- 1985: 10,3 triệu USD/R

 

- 1986: 16,5 triệu USD/R

 

- 1987: 22,1 triệu USD/R

 

1.2 Thời kỳ 1988 – 1989:

 

Xí Nghiệp bắt đầu làm xuất nhập khẩu trực tiếp.

 

Tình hình kinh tế cuối năm 1988 đầu năm 1989 của khu vực nói riêng và cả nước nói chung bước sang giai đoạn mới với nhiều khó khăn:

 

- Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn hàng nhập lậu tràn lan. Nhiều đơn vị nhập ồ ạt, thiếu kế hoạch khiến nguyên liệu, vật tư nhập về phục vụ sản xuất (sợi, nhựa, hoá chất, vv...) bị tồn đọng, tồn kho lâu, vốn quay chậm, buộc lòng phải bán lỗ để có vốn tiếp tục sản xuất. Tỷ suất bán hàng nhập khẩu thường thấp hơn tỷ suất làm hàng xuất khẩu.

 

- Kinh doanh hàng nhập khẩu trên thực tế đã mất tác dụng hổ trợ xuất khẩu.

 

- Về mặt sản xuất hàng xuất khẩu Xí Nghiệp cũng có những khó khăn riêng:

 

+ Giá nguyên liệu trong nước ngày càng tăng theo tốc độ giảm giá của đồng bạc Việt Nam.

 

+ Thị trường thế giới biến động bất lợi: giá xuất nhiều mặt hàng chủ lực của Xí Nghiệp như tôm đông lạnh sụt giảm do sức thu hút của thị trường yếu.

 

+ Lãi suất ngân hàng cao.

 

+ Hiệu ứng vỡ nợ nhiều doanh nghiệp trong nước làm cho Xí Nghiệp khó thu hồi nợ, hàng tồn kho giải tỏa chậm, các khoản nộp nghĩa vụ cao, chính sách thuế xuất nhập khẩu chưa hợp lý.

 

+ Thiếu điện cho sản xuất vv...

 

Tất cả những yếu tố nói trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Xí Nghiệp: năm 1989 tỉ giá hàng xuất bình quân lên đến 4.408 ĐVN/1USD-R trong khi tỷ giá bán hàng nhập bình quân (sau khi loại trừ thuế nhập khẩu và phí lưu thông) là 4.281 ĐVN/1USD-R.

 

2. Giai đoạn 1990 - 1998:

 

Đi vào tinh chế xuất khẩu, chấm dứt kinh doanh hàng nhập. Những nét lớn của sách lược kinh doanh mới có thể tóm lược như sau:

 

- Tập trung đi vào tinh chế sản xuất, không huy động hàng xuất thô từ bên ngoài.

 

- Sau hơn 20 năm hoạt động, phấn đấu nhanh chóng giảm và đi đến chấm dứt nhập hàng để kinh doanh, tập trung sản xuất hàng xuất khẩu.

 

- Cơ cấu hàng nhập chỉ gồm chủ yếu nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất của XN

 

- Rà soát lại cơ cấu mặt hàng xuất, chọn lọc một số sản phẩm Xí Nghiệp có điều kiện và ưu thế làm tốt, hiệu quả kinh doanh cao, triển vọng phát triển lâu dài kể cả mặt hàng mới để tập trung đầu tư.

 

- Đặt chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lên hàng đầu. Cân nhắc thận trọng hiệu quả kinh tế khi xây dựng kế hoạch và triển khai làm các mặt hàng xuất hhẩu, không nhất thiết chạy theo doanh số.
Nhờ vậy, Xí Nghiệp đã sớm khắc phục tình trạng khó khăn và liên tục làm ăn có lãi. Từ năm 1991 trở đi mặc dù kim ngạch xuất khẩu trực tiếp từng lúc tuy có biến động lên xuống

 

3. Giai đọan từ năm 1999 đến nay:

 

Xí Nghiệp bắt đầu triển khai một số dự án đầu tư liên doanh với nước ngoài làm hàng xuất khẩu:

 

Diện tích mặt bằng đã phát triển từ 3,5 hecta ban đầu, nay lên đến 7,5 hecta trong đó có hơn 30.000m2 nhà xưởng sản xuất, kho lạnh, kho hàng và các cơ sở phụ thuộc khác.

 

Trang thiết bị đã đầu tư đủ mạnh có khả năng sản xuất và chế biến nhiều mặt hàng khác nhau về thuỷ sản, thực phẩm chế biến, trà và các loại mặt hàng nông sản xuất khẩu đi nhiều nước như Châu Âu, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc... với khối lượng xuất khẩu trung bình hàng năm trên 7.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm từ 17 đến 18 triệu USD/năm.

 

Hệ thống máy móc trang thiết bị của Xí Nghiệp dần được bổ sung và lắp mới với công nghệ của Châu Âu và Nhật Bản cho phép Xí nghiệp cung cấp khoảng 8.500 tấn các loại sản phẩm/năm. Hệ thống cấp đông có công suất trên 60 tấn/ngày và dung lượng của hệ thống kho lạnh là 1.000 tấn sản phẩm.

 

Để có thể đưa hàng thâm nhập thị trường các nước, năm 1999 Xí nghiệp đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Đến năm 2000, Xí nghiệp đã được phép xuất hàng thuỷ sản và nhuyễn thể 2 mảnh vỏ vào thị trường Châu Âu. Đồng thời Xí Nghiệp đã được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9002 và năm 2003 đã nâng cấp ISO 9001:2000 của tổ chức TUV CERT - Đức. Xí nghiệp cũng đã nhanh chóng đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại 25 nước và đang tiếp tục đăng ký tại 23 nước khác.

 

Ngày 31/03/2005, Xí Nghiệp được tiến hành Cổ phần hoá theo Quyết định số 1398/QĐ – UB của UBND TP.HCM. Mục đích của việc cổ phần hoá là nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, phát huy nội lực, sáng tạo của cán bộ, công nhân viên, huy động thêm các nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển doanh nghiệp, đồng thời phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động và của các cổ đông.

 

Ngày 14/04/2006, theo Quyết định số 1817/QĐ – UBND của UBND TP.HCM về việc phê duyệt phương án và chuyển Xí nghiệp Chế biến Hàng xuất khẩu Cầu Tre thành Công ty Cổ phần Chế biến Hàng xuất khẩu Cầu Tre.

 

Sau khi Cổ phần hoá Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre có tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẨU CẦU TRE

 

Thành tựu đạt được

 

BẰNG KHEN BỘ CÔNG THƯƠNG 2011

 

BẰNG KHEN BỘ Y TẾ 2011

 

GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ

 

GIẤY CHỨNG NHẬN VIETGAP CHO SẢN PHẨM TRÀ

 

DANH HIỆU XUẤT KHẨU UY TÍN

 

CAU TRE ENTERPRISE

 

CHỨNG CHỈ CHỨNG NHẬN HÀNG XUẤT KHẨU

 

THƯƠNG HIỆU XANH BỀN VỮNG

 

CHỨNG NHẬN BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ

 

CHỨNG NHẬN NHÀ CUNG CẤP ĐÁNG TIN CẬY

 

About us

 

Introdution

 

Cau Tre Export Goods Processing Joint Stock Company (formerly Cau Tre Enterprise) was built in 1982 on the area of nearly 80,000 m2, of which more than 30,000 m2 is the factories with many modern equipments. Company product/Its product is diversified and abundant, made from raw materials and agricultural products and sold nationwide through supermarket and distribution agent. In addition, its product have been exported many countries around the world such as: Japan, Korea, Taiwan, Hong Kong, Germany, Italy, Switzerland, Holland, Spain, Portugal, USA, Canada, ... The company have applied the program of product quality management according to the HACCP (ISO 9001:2000) certified by TUV for its business production activities. With nearly 30 years expeience in manufacturing and processing for export, its company can produce many products that suitable for taste of each market, as well as customer requirement. During the (past) years, the company has gradually affirmed its position in the market, especilly in the processing for export, the product quality is always top valued.

 

History

 

During over the past two decades, CTE has experienced different developing stages, besides its advantages, it has also faced with many difficulties. But a pretty consistent specific is that CTE always shows its self-reliance, creativeness, in any circumstancy, to overcome its difficulties with a high spririt of solidarity from its collective group that always attaches to each other and to the enterprise's common career. Thanks to that, CTE has overcome many difficulties on its long way of development.

 

1. Summary of Direximco, precursor of CTE:

 

1.1 When talking about CTE, Direximco cannot be disregarded. Direximco was born in the background of 1979 - 1980, the production of industry and small craft industry of the City was nearly come to a standstill because of lack of materials, spare parts, works for labors... Besides, the government had to solve all indispensable consequences of the country after the war lasted tens of years; moreover, it also had to face with a new war at the two borders in the North and the Southwest.

 

According to the Resolution 6 of the Central Committee and the Resolution 26 of the Politburos, before a pressing demand of the general situation, by the end of April 1980, the Hochiminh City Committee and the People's Committee set forth the policy to form an Import-Export Team belonged to the Cooperative Union of Small Craft Industry of Hochiminh City. Through an experimental year, a lot of import-export deals under the new style shown a positive effect and gained a good business efficiency. Then, the government of the City issued its Decision no. 104/QĐ-UB dated 30 May 1981 to allow the establishment of Saigon Direximco (and other 3 import-export companies : Cholimex, Ramico, Ficonimex) in the City area.

 

1.2 In the scanty budget of the City, according to the instructions of the Hochiminh City Committee and the People's Committee, Direximco operated by its self-reliance under the motto of "two possibilities" (it can mobilize the capital from local and foreign countries and can submit an exact policy for immediate approval), and of "two impossibilities" (it cannot get the State's budget capital and cannot loan from the import-export foreign currency fund). This is a creative and brave policy in that time history situation.

 

With a flexible way, from small to larger scale, investment of short term for a longer, Direximco made a rapid development leap on its import-export turnovers At the same time, Direximco gained a profit and price difference of 1.6 billion Dong. This is a big amount at the beginning of 80 decade.

 

With a flexible way, from small to larger scale, investment of short term for a longer, Direximco made a rapid development leap on its import-export turnovers At the same time, Direximco gained a profit and price difference of 1.6 billion Dong. This is a big amount at the beginning of 80 decade.

 

During Direximco's operation, although business was being its main activity, the Leader Board identified the trend of neighborhood provinces to do the imports/ exports by themselves, especially in the rude and semi-processing exports, and gradually become independent of the City. Since then, Direximco was required to have to organize some its own subsidiaries, to take its own initiative in looking for a long and stable export sources with high business efficiency basing on the potential and strong position of science and technology, the City'skill... by producing Refined goods for export. The investment decision on building processing subsidiaries shown this strategic intention.

 

2. Transfer from Direximco into Cautre Enterprise:

 

Basing on the Resolution 01/NQ-TW dated 14 Sep 1982 from the Politburos and the Conference Resolution from the Standing Committee Members on the import-export (the Notice no.12/TB-TU dated 28 April 1983), the People's Committee of HCMC issued the Decision no. 73/QĐ-UB to transfer Direximco into Cautre Enterprise (CTE).

 

According to the above Decision, CTE is a producer and processor for export, belonged to Foreign Trade Department of HCMC. The CTE's products are Dried and Frozen Seafood and some other ones which are exactly stated in its annual plan.

 

After several reorginzation of the City's Foreign Trade Section, CTE belonged in turn Imp-Exp. Corporate of the City (IMEXCO), Foreign Affairs Economy Section, Trade Service and now Saigon Trading Group.

 

In the transferred time, Direximco's properties are very positive including high valued fixed assets, especially its big fund of goods.

 

Direximco transfeered all of its properties to Foreign Trade Service, of which the imported goods (fibers, rasins, chemicals....) valued at 10 million USD, 103 million Dong of exports and over 45 million Dong of industrial commodities.

 

The Foreign Trade Service returned an amount of 218 million Dong to CTE as its beginning business capital, of which:

 

- Fixed capital : 143 million Dong

 

- Working capital : 75 million Dong

 

In fact, the above capital '' allocated by the Budget'' just is a part of Direximco's accrumulation gained from its business results. After the change in money in the country in 1985, its fixed capital converted to 14.3 million Dong. Through several revaluation according to the policy from the Finance Department and CTE's profit annually drawn (for its capital kept intact) the above capital become 11.8 billon Dong, accounting about 11.4 % of its total capital (the 1997 Balance sheet).

 

For working capital (75 million Dong), CTE returned full amount to the budget by the end 1984.

 

By the modest capital allocated, with its efforts, CTE has grown step by step to build the pretty large scale premises of the City as today.

 

The CTE's growth is not really simple. Through its different stages, there has been a lot of much advantages, but also a lot of difficulties it has had to face, even the enterprise is sometimes required to have a lucid choice and high determination to overcome its hardship to avoid any standstill.

 

DEVELOPMENT STAGES OF THE ENTERPRISE

 

The twenty-year operation of the enterprise can be divided into 3 main stages :

 

1. Stage 1983- 1989:

 

Producing, exporting and dealing imported goods

 

The operation feature in this stage was the combination of producing the exports and dealing the imports under the barter method (using the imports for mobilizing the exports), and using the profit and the price difference gained from the imports to support the exports.

 

1.1 Stage 1983 – 1987:

 

CTE, a "foot of goods" of IMEXCO

 

According to the Decision 73/QĐ-UB of the HCM City's People's Committee, after the transfer from Direximco, as many other exporting enterprises in the City, CTE become IMEXCO's "foot of goods", IMEXCO was a clue among them. In the imports, CTE imported through IMEXCO by "bartered goods" and its scope of "using right of foreign currencies".

 

Under the condition that the IMEXCO's organization was not strong enough, the management structure was still subsidized, the CTE's self-control in finance and plan was not clearly and definitively solved, the goods usually bartered slowly... that resulted in stagnating the mobilization of materials for making goods, and much affecting the enterprise's operation.

 

On the other hand, the CTE's technical equipment and machinery and other means were not catching the production development that needs to be improved.

 

In the first 2 years, the export turnover was standstill :

 

- 1983 (the end 7 months of the year) 4.2 million USD

 

- 1984 7.5 million USD

 

To unbound the pending difficulties, on the one hand, the enterprise had to take advantages of the support from the higher authorities, on the other hand, CTE strived by its self-reliance to find out the way to stabilize the production and push up its activities.

 

One of its main immediate measures was to push up the speed of building its technical material facilities, although it faced with a lot of difficulties in materials, and capital as well. With the motto of "construction and production at the same time", any completed construction was put into use immediately, the spaces were used more effective. Along with taking advantage of the foreign customers' belief in deferring payment for importing machinery, the enterprise could seize an opportunity . Toghther the great success of the Scallop campaing gathered over 12,000mt of materials making over l,000mt of Frozen, Dried products, or the producing and exporting plan of nearly 3,000mt of Frozen Port for the Soviet Union in 2 years of 1985 and 1986 proved this creative method. Consequently, its export turnover in 1985 - 1987 considerably increased :

 

- 1985: 10.3 million USD/R

 

- 1986: 16.5 million USD/R

 

- 1987: 22.1 million USD/R

 

1.2 Stage 1988 – 1989:

 

CTE started its direct exports.

 

The economy in the region by the end of 1988, early 1989 in general, and in the whole country in particular, entered a new stage with much difficulties.

 

- Industrial and small craft production was brought to a standstill, a lot of smuggled goods. Many companies abundantly done the imports without any plan that made the raw materials and materials imported for their production (fibers, resins, chemicals... ) over stock, long storage, slow capital circle... they forced to sell them at a loss to take back their capital and continue their production. The exchange rate of the imports was usually lower than the one of the exports.

 

- Trading the imports, in fact, lost the effectiveness in supporting the exports.

 

- For the exports, the enterprise had its own difficulty as follows :

 

a. Local price of materials were increasing basing on the devaluation speed of Vietnam currency

 

b. The worldwide market fluctuated disadvantageously: the enterprise's export price of some main product (frozen shrimp...) was decreased due to the weak market consumption.

 

c. High banking interests.

 

d. Bankrupt effect from many local and foreign companies made difficult for the enterprise to take back its debts, slow inventory clearance, high obligation payable and the import-export tax policy was unreasonable

 

e. Lack of power for production.....

 

The enterprise's business and production was seriously affected by all of the above factors : the average exchange rate of the exports in 1989 was up to 4,408 VND/1USD-R while that of the imports (after deducting the import tax and circulation fee) was 4,281VND/1USD-R.

 

2. Stage 1990 - 1998:

 

Entering in refining export goods, ceasing the import business.

 

Features of new business policy can be summarized as follows :

 

- Focusing on refeining export goods, not gathering the rude exports from outside.

 

- After its 20-year operation and efforts, quickly reducing and gradually ceasing the import business, focusing on producing export goods.

 

- The main imports were raw materials and materials for the enterprise's production.

 

- Reviewing the exports, selecting some products including the new ones that the enterprise can have condition to make good with high efficiency, long development prospect for its investment.

 

- Ajusting the exports, additionally producing new products such as Tea, Refined Mushroom, etc., besides its seafood products.

 

- Setting up the business efficiency as its first range. Carefully considering the economic efficency when drawing a plan and doing the exports, it is unnecessary to run after profits.

 

As a result, the enterprise overcome sooner its difficulties and continuously gained profit from 1991 onwards, although the direct export turnover sometimes fluctuated

 

No.

Year

Export turnover (1.000 USD)

Import turnover (1.000 USD)

Business efficiency 
(Profit before taxes)  Million Dong

1

1990

10,916

6,200

2,018

2

1991

10,346

486

5,773

3

1992

16,113

244

11,991

4

1993

17,198

2,124

23,358

5

1994

10,110

4.009

13,528

6

1995

7,658

3,611

9,063

7

1996

4,908

961

9,103

8

1997

6,278

282

9,121

9

1998

2,220

489

3,300

 

From 1992, the enterprise started to do some joint venture projects from abroad as follows :
o Raising and Processing Duck and Fish for export Joint Venture Company (FOSACO) with an investment capital of 4 million USD of which the enterprise contributed 40 % (1,600,000 USD). Partner : Taiwanse company

 

After a time of operation, the joint venture company did not have any effect as expected, the enterprise requested to transfer the capital to the foreign partner and it was approved by the Planning and Investment Department.

 

NORTH – SOUTH TEA JOINT VENTURE CORPORATION with an investment capital of 2.604 million USD of the enterprise contributed 50% (l.302 million USD).

 

Partner : Taiwanese company

 

After that , the two Party agreed to dissolve for their own business. The disolvent decision was approved by the Planning and Investment Department from 1 February 1995.

 

NATURAL FOODS CO.,LTD, investment capital of 1 million USD of which the enterprise contributed 50% (500,000 USD). Partner : Japanese company which operated by the end of 1993 to 1998.

 

Also, the enterprise contributed its capital into 3 Joint stock Banks in the City.

 

3. Stage 1999 up to now:

 

Due to its increasing efforts, the enterprise today has built its premises larger and larger.

 

From the first space of 3.5 hectares, now it is 7.5 hectare of which over 30,000m2 of production areas, warehouse, cold storages and other subsidiary places.

 

Its equipment machinery is invested strong enough and capable to product and process various kinds of seafood, processed food, tea and other agricultural products and export to the European countries, Japan, USA, Taiwan, Korea.... with an average annual volume of over 7,000mt and a turnover from 17 to 18 million USD/year.

 

Its equipment machinery is gradually innovated and newly installed by the technology from European and Japan that allows the enterprise to supply about 8,500mt of various kinds of products/year. Its freezing capacity is over 60mt/day and its cold storage capacity is 1,000mt of products.

 

To enable its goods to ingrate into the worldwide market, the enterprise applied the quality management system and food safety under HACCP plan in 1999, approved the code to export its bivalve Mollucs to the European countries in 2000 and gained the ISO 9001-2002 in 2003 certified by TUV CERT – Germany. Its trademark is quickly registered in 25 countries and gone on with other 23 countries.

 

Under the Decision no. 1398/QĐ dated 31 March 2005 from the People's Committee of HCMC, the enterprise carried out its equitization. The purpose of equitizattion is to enhance its business efficiency and competition, to develop its self-reliance as well its employees' creativeness, to mobilize more capital from outside for the enterprise's development, and uphold the real mastery role of its labor force and shareholders.

 

Under the Decision no. 1817/QĐ dated 14 April 2006 from the People's Committee of HCMC approved the plan of transferring Cautre Enterprise into CAUTRE EXPORT GOODS PROCESSING JOINT STOCK COMPANY.

 

 

 

Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ
Designed by Glofo.