Thứ Hai, 18/06/2018
064.358.3925 (VT)  
Chinese Vietnamese

Không để nông sản sạch phải “giải cứu”

Thứ Năm, 11/01/2018 02:30
PDF. Print. Print.

Việc thiếu ổn định về nguồn cung, chất lượng, những khúc mắc trong chia sẻ lợi ích giữa hợp tác xã và DN cùng với việc sản xuất tràn lan không tính tới nhu cầu thị trường đang là những vướng mắc khiến cho việc liên kết tiêu thụ nông sản nói chung và nông sản sạch thời gian qua chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Cần gấp rút giải quyết những vấn đề này để khơi thông thị trường nông sản, chấm dứt tình trạng giải cứu nông sản như thời gian qua.

 

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có 700 chuỗi cung ứng nông sản an toàn được kết nối giữa 50 tỉnh thành phố trên cả nước với các sản phẩm chủ yếu là rau, quả, chè, thịt và thủy sản các loại... Tuy nhiên, so với nhu cầu tiêu dùng, nông sản thực phẩm an toàn vẫn chưa đa dạng về chủng loại, còn thiếu các địa chỉ cung ứng khiến nhiều người tiêu dùng chưa có cơ hội tiếp cận. Ông Đào Văn Hồ, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đánh giá hoạt động kết nối cung – cầu nông sản, thực phẩm an toàn là khâu yếu nhất trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp.

 

Bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An cho biết, từ đầu năm 2015, UBND tỉnh Long An đã triển khai Đề án xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn đến năm 2020. Đến nay đã xây dựng được 4 chuỗi sản xuất rau an toàn. Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm được kiểm soát theo chuỗi này còn gặp nhiều khó khăn ở khâu phân phối, lưu thông, quảng bá ra thị trường. Việc bố trí điểm bán rau an toàn ở chợ còn gặp khó khăn, địa điểm không thuận lợi nên người tiêu dùng tiếp cận chưa nhiều. Đặc biệt, tại các chợ truyền thống, giá bán giữa sản phẩm an toàn và không an toàn không có sự chênh lệch, giá bán sản phẩm an toàn chưa thực sự tương xứng với chi phí và công sức mà các cơ sở đã đầu tư. Thậm chí, rau an toàn được kiểm soát theo chuỗi, theo tiêu chuẩn VietGAP còn bị thương lái đánh đồng với rau không rõ nguồn gốc, không đảm bảo an toàn.

 

Ông Phạm Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc Saigon Co.op cũng cho hay, hiện đơn vị này đang thực hiện liên kết phân phối nông sản sạch với 20 hợp tác xã để cung cấp nông sản sạch đến người tiêu dùng với sản lượng cung ứng hàng năm lên đến 16.000 tấn, doanh số đạt hơn 310 tỷ đồng. Tuy nhiên, nguồn cung từ các hợp tác xã lại không ổn định, nhiều lần không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng và số lượng, giá cả cũng thường xuyên biến động theo mùa. Cũng theo ông Kiên, mặc dù các hợp tác xã này đều có chứng nhận VietGap hoặc cơ sở sản xuất an toàn nhưng đôi lúc hệ thống kiểm soát chất lượng của Saigon Co.op vẫn phát hiện có tồn dư hóa chất, kháng sinh, vi khuẩn... trong sản phẩm. Thêm vào đó, năng lực điều hành hoạt động của các hợp tác xã còn nhiều hạn chế đã dẫn tới tình trạng xã viên thích thì tham gia, không thì thôi. Điều này dẫn đến quy mô sản xuất, năng suất sản phẩm không ổn định, không đạt yêu cầu như cam kết ban đầu.

 

Bàn về tình trạng "bẻ kèo" trong chuỗi liên kết nông sản, ông Nguyễn Phúc Khoa, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn TNHH MTV (Satra), cũng nêu thực tế việc liên kết của Satra với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu gạo thường xuyên gặp tình trạng giá lên nông dân bán sản phẩm ra ngoài, giá hạ Satra phải thu mua sản lượng cao đột biến. Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, cũng cho hay, không chỉ nông dân mà DN cũng "bẻ kèo" khi thấy bất lợi nếu tiếp tục thực hiệp hợp đồng. Do vậy, các hợp đồng liên kết cần có đơn vị thứ 3 để bảo đảm tính pháp lý, công bằng cả 2 bên.

 

Để tăng hiệu quả của hoạt động liên kết giữa DN và hợp tác xã, ông Huy, cho rằng nông dân phải thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp. Phải biết sản phẩm mình làm ra bán cho ai với tiêu chuẩn chất lượng như thế nào. Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam cũng cho rằng, các hợp tác xã cần nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thị trường để có kế hoạch sản xuất phù hợp, tránh tình trạng cung vượt cầu dẫn đến các cuộc giải cứu trong thời gian qua.

 

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, Nhà nước cần hỗ trợ DN, hợp tác xã phát triển chuỗi các điểm giới thiệu, phân phối, tiêu thụ nông sản và thực phẩm an toàn là sản phẩm của các hợp tác xã đã liên kết theo chuỗi. Đồng thời quy hoạch những vùng chuyên canh chuyên nuôi trồng sản phẩm sạch để kêu gọi nhà đầu tư hỗ trợ những ứng dụng công nghệ cao, xúc tiến thương mại cho xuất khẩu... Ở góc độ nhà quản lý, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cho rằng, hai nút thắt chính trong mối liên kết tiêu thụ nông sản chính là việc đảm bảo nguồn hàng chất lượng và sự chia sẻ lợi ích giữa hợp tác xã và DN. Theo ông Nam, các hợp tác xã không nên trông chờ hoàn toàn vào Nhà nước mà cần tự nỗ lực là chính, phải tận dụng tốt nguồn tín dụng nội bộ kết hợp với việc sản xuất kinh doanh hiệu quả. Nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho các hợp tác xã, trong năm 2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ triển khai thí điểm việc đưa 400 cán bộ khoa học kỹ thuật về các hợp tác xã. Điều này sẽ giúp bổ sung nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, hỗ trợ cho các hợp tác xã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

 

Ông Nam cũng cho hay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nghị định sẽ khắc phục những tồn tại của Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg trước đó. Việc liên kết sẽ được thực hiện trên nguyên tắc cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro, bên vi phạm sẽ không được hưởng các chính sách ưu đãi. Đây là một phần trong các giải pháp hỗ trợ liên kết sản xuất để tăng tính cạnh tranh cho nông sản Việt, bảo vệ thị trường nội địa trước làn sóng nhập khẩu nông sản ngoại.

 

Bà Nguyễn Thị Ánh Lan, Giám đốc HTX Thủy sản Tương Lai (TP.HCM):

Do có quy mô nhỏ, sản lượng khoảng 250-300 tấn/năm nên hợp tác xã khó tham gia các kênh phân phối lớn và phải lệ thuộc vào thương lái, tự phân phối nhỏ lẻ, làm cho hợp tác xã khó mở rộng quy mô. Thêm vào đó, do quy mô nhỏ nên hợp tác xã gặp rất nhiều khó khăn khi cùng lúc phải giải quyết nhiều vấn đề cả về sản xuất, xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tìm kênh tiêu thụ vào các siêu thị... Vì vậy, sản phẩm chủ yếu vẫn phải bán qua các kênh tự do trên thị trường là chính.

 

Ông Võ Hoàng Anh, Giám đốc hàng nhãn riêng Liên hiệp HTX Thương mại TP HCM (Saigon Co.op):

Nhu cầu tiêu thụ thực phẩm hữu cơ đang tăng nhanh. Hiện Saigon Co.op đang đầu tư sản xuất hữu cơ trên diện tích 300 ha, có chứng nhận quốc tế. Các sản phẩm sản xuất ra được bày bán tại 7 siêu thị tại TP.HCM, tuy nhiên nguồn cung không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Do đó, Saigon Co.op đang tìm kiếm các đối tác để hợp tác sản xuất kinh doanh sản phẩm hữu cơ đạt chứng nhận quốc tế hoặc tham gia đầu tư vào sản phẩm để bao tiêu đầu ra, bảo đảm nguồn hàng ổn định chất lượng, sản lượng và giá tốt.

 

Ông Võ Minh Khải, Tổng Giám đốc Công ty Viễn Phú Organic and Healthy Food:

Đầu tư làm nông nghiệp hữu cơ rất tốn kém nên giá cả luôn cao hơn sản phẩm thông thường. Trong khi thị trường sản phẩm hữu cơ lại "vàng thau lẫn lộn" khiến cho việc kết nối từ sản xuất tới tiêu dùng còn hạn chế. Do vậy, Nhà nước cần có chính sách cho vay vốn ưu đãi để đầu tư sản xuất, khuyến khích đầu tư phát triển phân bón, chế phẩm sinh học hữu cơ đạt chứng nhận trong nước thay sản phẩm nhập khẩu, hỗ trợ trong khâu phân phối, truyền thông thì sẽ giảm giá bán sản phẩm đáng kể. Bên cạnh đó, nếu chính sách tốt sẽ thu hút thêm nhiều DN đầu tư vào lĩnh vực này, cạnh tranh lành mạnh sẽ giảm giá thành và người tiêu dùng được mua sản phẩm hữu cơ giá "mềm" hơn.

 

 

 

Khải Kỳ
Nguồn: Báo Hải Quan

Kiến Thức: 
Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ
Designed by Glofo.