Thứ Năm, 19/07/2018
064.358.3925 (VT)  
Chinese Vietnamese

Kinh Tế Các Quốc Gia

Venezuela

Thứ Năm, 08/03/2012 01:01
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Vê-nê-xu-ê-la giàu tài nguyên (dầu khí, than đá, quặng sắt, kim cương, vàng, kẽm, bạc, bô-xít, thuỷ điện), có điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi. Rừng chiếm 39% lãnh thổ. Dầu lửa là ngành kinh tế quan trọng nhất, đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu dầu lửa, chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 1/2 thu ngân sách Chính phủ và 1/3 GDP. Sau khi nhậm chức nhiệm kỳ 2007-2013, Tổng thống U. Cha-vết công bố chủ trương quốc hữu hoá một số ngành kinh tế chiến lược như dầu khí, điện, viễn thông và chấm dứt quyền tự chủ của Ngân hàng Trung ương.

 

Posted By thong read more

Uruquay

Thứ Năm, 08/03/2012 00:57
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Uruguay có nền kinh tế nhỏ với thời tiết thuận lợi, đất đai màu mỡ, trình độ lao động tay nghê cao, và tiềm năng thuỷ điện mạnh mẽ. Xuất khẩu nông sản là thế mạnh chính. Sau vài năm trì trệ, GDP thật đã nhảy lên mức 7,5% năm 1992, chủ yếu do nhu cầu ngày càng gia tăng của Argentina đối với hàng xuất khẩu của Uruguay, nhất là nông sản và điện năng. Để tiến một bước lớn trong sự cộng tác kinh tế khu vực, năm 1991 Uruguay đã gia nhập Thị trường Chung với Brazil, Argentina và Paraguay.

 

Posted By thong read more

Peru

Thứ Năm, 08/03/2012 00:53
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Pê-ru có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - thương mại và giàu tài nguyên thiên nhiên; đứng đầu thế giới về một số sản phẩm trong đó có bột cá và len; thứ tư về đồng; thứ năm về vàng và giầu tài nguyên thiên nhiên khác như kẽm, đồng, bạc và dầu lửa (đứng thứ 2 thế giới về sản xuất bạc và thứ 8 về sản xuất kẽm). Chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp khoáng sản, dầu lửa, thủy sản và nông nghiệp. Khoáng sản chiếm gần một nửa giá trị xuất khẩu hàng năm. Nông phẩm chính gồm bông, cà phê, ca cao, mía, ngô, thuốc lá. Chăn nuôi chủ yếu là gia súc lấy thịt và sức kéo. Du lịch phát triển năng động, đón hơn 1 triệu lượt khách quốc tế và thu hơn 1,2 tỷ USD mỗi năm.

 

Posted By thong read more

Paragoay

Thứ Năm, 08/03/2012 00:48
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế


Paraguay có nền kinh tế thị trường đặc trưng bởi nền khu vực phi chính thức thực hiện tái xuất hàng tiêu dùng cho các nước làng giềng, và hàng nghìn doanh nghiệp siêu nhỏ và các hàng bán rong. Phần đông dân số sống bằng nông nghiệp ở vùng nông thôn. Bởi phần lớn kinh tế là phi chính thức, rất khó có các số liệu kinh tế chính xác. Paraguay là nước sản xuất đậu nành lớn thứ 6 thế giới. Do hạn hán, xuất khẩu nông nghiệp năm 2009 giảm mạnh và làm suy yếu kinh tế Paraguay trước cả khi xảy ra suy thoái toàn cầu. Chính phủ đã khắc phục bằng cách đưa ra gói kích thích tiền tệ và tài chính.Bất ổn chính trị, tham nhũng đã làm chậm lại cải cách kinh tế. Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kèm cùng là cản trở chính cho tăng trưởng.

 

Posted By thong read more

Panama

Thứ Năm, 08/03/2012 00:42
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Kinh tế Panama dựa trên dịch vụ, chủ yếu là ngân hàng, thương mại và du lịch, vì vị trí địa lý chiến lược của nó. Việc chuyển giao quyền quản lý kênh đào và các căn cứ quân sự của Mỹ khiến các dự án xây dựng mới ở đây bùng nổ.

 

Posted By thong read more

Mexico

Thứ Tư, 07/03/2012 09:36
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế


Kinh tế Mêxicô phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, chủ yếu là Mỹ. Các ngành kinh tế chủ chốt ở Mêxicô, trừ ngành dầu lửa được quốc hữu hoá từ 1938, đều do các công ty xuyên quốc gia do tư bản Mỹ khống chế nắm giữ. Trong chính sách kinh tế và đối ngoại, Mêxicô dành ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ toàn diện với Mỹ, Canada . Kế đó, Mêxicô ưu tiên quan hệ với các nước EU, các nước láng giềng ở Trung Mỹ, với Mỹ Latinh. Đối với Châu Á-Thái Bình Dương, Mêxicô ưu tiên quan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc và các nước NICs nhằm thu hút vốn đầu tư cuả các nước Châu Á và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Mêxicô sang khu vực này.

 

Posted By thong read more

Hoa Kỳ

Thứ Tư, 07/03/2012 09:33
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan về kinh tế Hoa Kỳ

 

Hoa Kỳ có một nền kinh tế hổn hợp tư bản chủ nghĩa được kích thích bởi tài nguyên thiên nhiên phong phú, một cơ sở hạ tầng phát triển tốt, và hiệu xuất cao. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ hơn 13 ngàn tỉ đô la năm 2007 chiếm 20 phần trăm tổng sản phẩm thế giới. Đây là tổng sản phẩm nội địa lớn nhất thế giới, lớn hơn một chút so với tổng sản phẩm nội địa kết hợp của Liên hiệp châu Âu ở sức mua tương đương năm 2006.Hoa Kỳ đứng hạng 8 thế giới về tổng sản lượng nội địa trên đầu người và hạng tư về tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo sức mua tương đương. Hoa Kỳ là nước nhập cảng hàng hóa lớn nhất và là nước xuất cảng đứng hạng nhì. Canada, Trung Quốc, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất của Hoa Kỳ. Hàng xuất cảng hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí hàng đầu về nhập cảng. Nợ quốc gia của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới; năm 2005 chiếm 23 phần trăm tổng số nợ toàn thế giới. Tính theo phần trăm tổng sản phẩm nội địa, nợ của Hoa Kỳ xếp thứ 30 trong số 120 quốc gia mà số liệu sẳn có.

 

 

Posted By thong read more

Cuba

Thứ Tư, 07/03/2012 09:28
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Cu-ba có khí hậu nhiệt đới ôn hoà; nhiều khoáng sản như ni-kên (nikel-sản lượng đứng thứ 4 thế giới), đồng, sắt, măng-gan, dầu lửa...; đất đai mầu mỡ, thích hợp cho canh tác cây công nghiệp (mía, cà phê, thuốc lá, cây ăn quả...) và chăn nuôi đại gia súc; có nhiều vùng sinh thái và phong cảnh thiên nhiên đa dạng thích hợp cho việc phát triển mọi loại hình du lịch.

 

- Bước vào thập kỷ 90, Cu-ba lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng nhất kể từ ngày Cách mạng thành công. Năm 1990, kinh tế tăng trưởng âm (-) 2,6%; năm 1993, GDP giảm đến 35% so với năm 1989 (trước khủng hoảng). Nợ nước ngoài khoảng 11 tỷ đôla (cuối 1998), chưa kể số nợ 21,5 tỷ rúp chuyển đổi của Nga. Để khắc phục khó khăn, từ năm 1993, Cu-ba đã áp dụng một số biện pháp như: hợp pháp hóa quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ trong dân; ban hành Luật đầu tư nước ngoài mới (5/9/1995); cho phép tư nhân hoạt động trong một số ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nông sản và dịch vụ; cải cách cơ cấu trong nông nghiệp theo hướng phi tập trung hoá và đa dạng hoá sản phẩm (thu hẹp ngành mía đường và phát triển các ngành nghề khác); cho phép các công ty lớn của nhà nước được tự cân đối ngoại tệ - ngoại thương trực tiếp... Từ cuối năm 2004, để tập trung quản lý ngoại tệ và đáp lại chính sách xiết chặt bao vây - cấm vận của Mỹ, Cu-ba đình chỉ việc sử dụng đồng đôla Mỹ và thống nhất ban hành đồng pê-xô chuyển đổi trên thị trường nội địa.

 

- Kể từ năm 1995, kinh tế Cu-ba đã từng bước phục hồi và thoát ra khỏi thời điểm khó khăn nhất. Những năm gần đây, kinh tế Cu-ba tiếp tục giữ đà tăng trưởng liên tục ở mức cao. Quan hệ thương mại của Cu-ba khá cân bằng với các châu lục: Châu Mỹ, 45%; Châu Âu: 31%, Châu Á và Trung Đông: 21%; các bạn hàng chính Venezuela, Trung Quốc , Tây Ban Nha ..

 

- Những năm gần đây, kinh tế Cu-ba tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Kể từ đầu năm 2008, Cu-ba ban hành một số biện pháp kinh tế xã hội mới: cải cách nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất vĩnh viễn hoặc lâu dài cho các hộ sản xuất (5 héc-ta); đối xử bình đẳng giữa nông trường nhà nước và hợp tác xã, tăng giá thu mua nông sản, cho phép nông dân bán sản phẩm ra thị trường sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, bác bỏ một số chế độ bao cấp miễn phí...; nghiên cứu bác bỏ việc sử dụng song hành 2 đồng tiền (pê-xô và pê-xô chuyển đổi) và chế độ tem phiếu; sửa đổi luật lao động (tăng lương tối thiểu lên gấp đôi, tiến tới áp dụng chế độ lương mới theo năng xuất và chất lượng sản phẩm, cho phép các thành phần kinh tế tư nhân và hộ gia đình được tham gia kinh doanh một số dịch vụ và thị trường bán lẻ...); cải thiện các cơ sở dịch vụ xã hội cũng như y tế, giáo dục, giao thông, bảo hiểm và trợ cấp xã hội, nới lỏng qui định xuất cảnh, cho phép người Cu-ba được mua máy tính, đồ điện gia dụng, sử dụng dịch vụ điện thoại di động...


2. GDP


GDP theo ngang giá sức mua: 114,1 tỷ USD (2010)


Tăng trưởng GDP: 1,5% (2010)


GDP - theo đầu người: 9.900 USD (2010)


Phân bổ GDP theo ngành: (2010)


Nông nghiệp: 4,2%


Công nghiệp: 22,7%


Dịch vụ: 72,1%

 

 co-cau-gdp-cuba

 

3. Đặc điểm chung các ngành:


Các ngành công nghiệp: mía đường, dầu mỏ, thuốc lá, xây dựng, nicken, thép, xi măng, máy nông nghiệp, dược phẩm.


Tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp: 2,8% (2009)


Nông sản: đường, thuốc lá, cà phê, chanh, gạo, cà chua, đỗ, vật chăn nuôi.

 

4. Lực lượng lao động


Lực lượng lao động: 5,164 triệu (2010)


Ghi chú: khu vực nhà nước 78% khu vực tư nhân 22%


Phân bổ lực lượng lao động theo ngành:


Nông nghiệp: 20%


Công nghiệp: 19,4%


Dịch vụ: 60,6%


Tỷ lệ thất nghiệp: 2% (2010)

 

5. Kim ngạch xuất nhập khẩu:

 

Kim ngạch xuất khẩu: 3,311 tỷ USD f.o.b (2010)


Các mặt hàng xuất khẩu: đường, nicken, thuốc lá, cá, sản phẩm dược, chanh, cà phê.


Đối tác xuất khẩu: Canada 20,31%, Trung Quốc 25,68%, Tây Ban Nha 6,79%, Hà lan 4,53% (2009)


Kim ngạch nhập khẩu: 10,25 tỷ USD f.o.b (2010)


Các mặt hàng nhập khẩu: dầu mỏ, thực phẩm, máy móc và thiết bị, hoá chất.


Đối tác nhập khẩu: Venezuela 30,51%, Trung Quốc 15,48%, Tây Ban Nha 8,3%, US 6,87%
(2009)


Nợ nước ngoài: 19,75 tỷ USD


Tiền tệ: Đồng Pêso Cuba (CUP) và đồng peso chuyển đổi CUC


Mã tiền tệ: CUP và CUC

 

6. Tỷ giá hối đoái:


1 pêso trên một USD – 0,9259 (2009); 0,9259 (2008); 0,9259 (2007); 0,9231 (2006).


Lưu ý: Cuba có 3 loại tiền tệ được lưu hành: Đồng peso Cuba (CUP), đồng peso có thể chuyển đổi (CUC) và đô la Mỹ (USD), mặc dù đồng đôla đang được rút không lưu hành nữa.

 

7. Thông tin liên lạc


Điện thoại cố định: 1,168 triệu (năm 2009)

 


Hệ thống điện thoại:


Đánh giá chung: thành lập Bộ Công nghệ và Viễn thông mới từ năm 2000 giúp cải thiện hệ thống; dịch vụ không dây , tuy nhiên nhiều dịch vụ mạng không dây vẫn còn đắt đã hạn chế số lượng người đăng ký sử dụng.

 

Nội địa: hệ thống cáp quang quốc gia đang phát triển; 85% được số hoá, số lượng máy điện thoại vẫn còn thấp dưới 10 máy/100 dân; dịch vụ di động nội đia đang được mở rộng.

 

Quốc tế: mã quốc gia -53, cáp quang được đặt ngầm nhưng không nối với mạng của Mỹ; trạm vệ tinh mặt đất- 1 Intersputnik (khu vực Đại Tây Dương)

 

Đài phát thanh: 6 đài quốc gia


Đài truyền hình: 4 đài quốc gia


Mã Internet: .cu


Số người sử dụng Internet: 1,6 triệu

 

9. Giao thông vận tải


Đường sắt: 8.598 km


Đường bộ: 60.858km


Đường thuỷ: 240 km (2010)


Cảng và hải cảng: Cienfuegos, Havana, Matanzas


Tàu buôn: 5 tàu (1.000 GRT hoặc hơn) tổng số 33.932 GRT/48.791 DWT.
Sân bay: 136 sân bay các loại (2009).

 

10. Chính sách đối ngoại:


- Sau Cách mạng thành công, Cu-ba thi hành chính sách đối ngoại năng động, kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc, tích cực ủng hộ phong trào cách mạng, giải phóng dân tộc, đấu tranh mạnh mẽ cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.


- Từ đầu thập kỷ 90, Cu-ba đã từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình mới; đề cao cảnh giác sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Mỹ trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết; đẩy mạnh quan hệ với các nước Mỹ Latinh - Ca-ri-bê, nhất là với Vê-nê-xu-ê-la và các Chính phủ theo khuynh hướng thiên tả, dân tộc; tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha...; chủ động, tích cực hoạt động tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương nhằm tập hợp lực lượng và phá thế bao vây - cấm vận. Cu-ba là Chủ tịch Phong trào không liên kết (2006-2009).

Posted By thong read more

Chile

Thứ Tư, 07/03/2012 09:22
PDF. Print. Print.

1. Đặc điểm kinh tế tổng quan:


Chile có nền kinh tế thị trường đặc trưng một nền ngoại thương phát triển và thể chế tài chính vững mạnh. Xuất khẩu chiếm hơn ¼ GDP. Chi riêng đồng đã chiếm 1/3 nguồn thu chính phủ. Trong những năm đầu thập kỷ 90, Chile được coi là hình mẫu của cải cách kinh tế đặc biệt dưới thời của Chính quyền Patricio Aylwin. GDP bình quân tăng 8% trong giai đoạn 1991-1997. Tuy nhiên GDP giảm còn một nửa năm 1998 do chinh sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát thâm hụt cán cân vãng lai vì thu từ xuất khẩu giảm do khủng khoảng kinh tế toàn cầu. Năm 1999 hạn hán kéo dài, gây thiếu điện, giảm năng suất nông nghiệp khiếp Chilê lần đầu tiên sau hơn 15 năm có tăng trưởng GDP âm. Kể từ đó, GDP tăng trưởng trung bình 4%/năm. Chile là nước chủ trương tự do hoá thương mại với 57 hiệp định thương mại tư do- Chile la nước ký nhiều hiệp định thương mại song phương và khu vực nhiều nhất thế giới.

 

Posted By thong read more

Canada

Thứ Tư, 07/03/2012 09:13
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan về kinh tế

 

Canada là một quốc gia phát triển (thuộc G8) và có nguồn năng lượng tự cung tự cấp. Nền kinh tế chính của Canada dựa trên các tài nguyên thiên nhiên. Từ sau Chiến tranh Thế giới II sự tăng trưởng ấn tượng trong các ngành sản xuất , khai mỏ và dịch vụ đã biến quốc gia này từ một nền kinh tế phần lớn là nông thôn trở thành một quốc gia công nghiệp và thành thị. Bạn hàng xuất khẩu lớn nhất của Canada là Hoa Kỳ, tiếp theo là Nhật Bản và Anh. Bạn hàng nhập khẩu gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc và Mexico.

 

Posted By thong read more

Brazin

Thứ Tư, 07/03/2012 09:10
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Được đặc trưng bởi khu vực nông nghiệp, khai khoáng, sản xuất và dịch vụ rộng lớn và phát triển. Nền kinh tế Brazil cũng như các quốc gia Nam mỹ khác đang mở rộng thị trường ra thế giới. Từ năm 2001-03, nền kinh tế Brazil tăng trưởng chậm, trung bình chỉ tăng 2,2%/năm khi nước này liên tục chịu nhiều biến động trong kinh tế ngoại thương và nội thương. Brazil đã vượt qua những biến động này mà không làm bị ảnh hưởng nghiêm trọng về tài chính nhờ sự hồi phục nhanh của nền kinh tế Brazil và chương trình kinh tế của cựu Tổng thống CARDOSO và được củng cố thêm bởi Tổng thống LULA DA SILVA. Từ năm 2004, nền kinh tế Brazil tiếp tục tăng trưởng, nhiều việc làm được tạo thêm và thu nhập của người dân cũng tăng thêm. 3 cột trụ của chương trình kinh tế là tỷ giá hối đoái đang thả nổi, chế độ đang hướng tới lạm phát, chính sách tiền tệ chặt, ban đầu được củng cố bởi các chương trình của IMF. Đồng tiền bị sụt giá mạnh trong năm 2001-02, hiện tại đã được điều chỉnh; từ năm 2003 đến 2006, Brazil đã thặng dư mậu dịch, được ghi nhận là giai đoạn thặng dư mậu dịch đầu tiên kể từ năm 1992.

 

Năng suất lao động, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã đóng góp vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu. Nhờ quản lý kinh tế tốt, đã duy trì được những vấn đề kinh tế quan trọng, đáng kể nhất là vấn đề liên quan đến nợ quốc gia. Tổng thống LULA DA SILVA đã cam kết với trách nhiệm tài chính bằng cách duy trì thặng dư thương mại trong giai đoạn bầu cử 2006. Trong lễ nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng thống LULA DA SILVA tuyên bố cải cách kinh tế để giảm thuế và tăng đầu tư khu vực công. Một thách thức lớn là suy trì tốc độ tăng trưởng nhanh để tạo ra việc làm và giảm gánh nặng nọ của chính phủ.

 

Nền kinh tế Braxin đã kháng cự tốt đối vơí khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đến ngày 22/7/2009 mức dự trữ ngoại tệ đạt 209 tỷ USD, cao hơn mức trước khủng hoảng thế giới diễn ra. Các ngành kinh tế chủ chốt như chế tạo máy bay vận tải tầm ngắn và tầm trung, sản xuất ôtô, khai thác mỏ, luyện kim, dịch vụ, nông sản thực phẩm đã có tín hiệu vượt qua điểm đáy khủng hoảng, mở mang đầu tư, sản xuất, gọi người lao động trở lại làm việc mà dịp đầu năm tạm nghỉ hoặc mất việc. Thặng dư thương mại tiếp tục ở mức cao. Chỉ số nhu cầu tiêu dùng nội địa đã tăng cao hơn, nhất là đối với các mặt hàng tiêu dùng lâu bền như xe hơi, điện máy gia đình, chỉ số cho vay tín dụng mua hàng trả góp đã tăng cao hơn tháng 5/2009 và cùng kỳ năm trước. Dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI giải ngân đạt 11 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2009, mức cao thứ nhì trong 10 năm qua, ước đạt 25 tỷ USD trong năm 2009.

 

Theo báo cáo kinh tế của Uỷ ban Kinh tế Mỹ La tinh của Liên Hiệp Quốc CEPAL, từ năm 2000 đến 2008, quy mô kinh tế GDP của Braxin đã tăng 4,4 điểm phần trăm từ 30,9 % lên 35,3%, đạt 1,435 ngàn tỷ USD trong tổng số GDP của tất cả các nước Mỹ La tinh (kể cả Mexico).

 

Do ảnh hưởng của khủng khoảng tài chính toàn cầu, năm 2009, GDP Braxin tăng trưởng âm nhưng bước sang năm 2010 Brazil đã hồi phục tăng trưởng dương mạnh mẽ.

 

2. GDP


GDP: 2,194 nghìn tỷ USD (2010)


Tăng trưởng GDP: 7,5% (2010)


GPD theo đầu người: 10.900 USD (2010)


GDP theo cơ cấu: (2010)


• Nông nghiệp: 6,1%

 

• Công nghiệp: 26,4%


• Dịch vụ: 67,5%

 

ae9Co-cau-GDP

 

3. Đặc điểm chung các ngành


Công nghiệp. Hàng dệt và các hàng tiêu dùng khác, giày dép, hóa chất, xi măng, gỗ quặng, thiếc, máy bay, sắt, thép, xe hơi và linh kiện rời, máy móc, thiết bị.

 

Nông nghiệp : là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê và bột cam nhiều nhất thế giới, xuất khẩu đậu nành đứng thứ 2 thế giới; các sản phẩm khác: gạo, bắp, mía, ca cao; thịt bò; sản xuất thực phẩm đủ dùng, trừ lúa mì

 

Năng lượng


Công suất điện năng: 437,3 tỷ KW trong đó:


• Hoá thạch: 8,3%


• Thuỷ điện: 82,7%


• Nguyên tử: 4,4%


• Năng lượng khác: 4,6%


Tiêu thụ điện: 402,2 tỷ KWh


XK điện: 2,034 tỷ KWh


NK điện: 42,06 tỷ KW (nhập khẩu từ Paraguay)

 

4. Lực lượng lao động.


103, 6 triệu người hoạt động trong các lĩnh vực: dịch vụ 66%, nông nghiệp 20%, công nghiệp 14% (2010)


Tỉ lệ thất nghiệp 7% (2010)

 

5. Kim ngạch Xuất nhập khẩu


Xuất khẩu. 199,7 Tỷ USD (2010)


Mặt hàng xuất khẩu: phương tiện vận chuyển, quặng sắt, đậu nành; giày dép, cà phê, linh kiện xe hơi.
Các bạn hàng chính: Trung Quốc 12,49%, Mỹ 10,5%, Argentina 8,4%, Hà lan 5,39%, Đức 4,5%


Nhập khẩu: 187,7 Tỷ USD (2010)
Mặt hàng nhập khẩu: máy móc, phương tiện vận chuyển, hoá phẩm, dầu thô, linh kiện ô tô, đồ điện tử


Các bạn hàng chính: Mỹ16,12%, Trung Quốc 12,61%; Argentina 8,77%; Đức 7,65%, Nhật 4,3%

 

6. T ỉ giá hối đoái.


Tiền tệ: 1 Brazil Real (BRL)=100 centavos


Tỷ giá hối đoái: BRL/1 USD 1,77 (2010); 2,0322 (2009), 1,8644 (2008), 1,85 (2007)

 

7. Thông tin liên lạc:.


Hệ thống tốt: 41,141 triệu máy ĐT cố định; 150,641 triệu ĐT di động; đài phát sóng: 1365 AM, 296 FM, 138 đài truyền hình; ba cáp đồng trục xuyên đại dương, 3 trạm tiếp vận mặt đất INTELSAT Đại tây dương và 64 trạm tiếp vận vệ tinh quốc nội.

 

8. Giao thông vận tải


Đường xe lửa: 28.857 km; 2.150 km đường xe điện


Đường bộ:


- Toàn bộ: 1.751.868 km


- Trải nhựa: 96.353 km


Thuỷ đạo nội địa: 50.000 km


Cảng: Belem, Fortaleza, Ilheus, Manaus, Porto Alegre, Salvador, Santos, Río de Janeiro, Recife


Phi trường: 3.279

 

9. Chính sách đối ngoại:


Bra-xin có vai trò quan trọng tại khu vực và ngày càng tăng trên trường quốc tế. Chính phủ của Tổng thống Lu-ít I-ná-ci-ô Lu-la đa Siu-va đề cao độc lập chủ quyền và quyền tự quyết; chủ trương củng cố và phát triển mọi mặt khối MERCOSUR; thúc đẩy liên kết, hội nhập khu vực, tích cực thúc đẩy thành lập Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (UNASUR) theo mô hình EU; quan tâm đẩy mạnh quan hệ với các nước ở các khu vực khác, trong đó chú trọng châu Á-Thái Bình Dương. Bra-xin đóng vai trò lãnh đạo Nhóm G20, bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển tại Vòng đàm phán Dô-ha.


Bra-xin là thành viên của LHQ, WTO, Hiệp hội Liên kết Mỹ Latinh (ALADI), nhóm BRIC (Bra-xin, Nga, Ấn Độ, TQ), IBSA (Ấn Độ, Bra-xin, Nam Phi), Tổ chức các nước Châu Mỹ (OEA), Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ (UNASUR), Hệ thống Kinh tế Mỹ Latinh (SELA), Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Nghị viện Mỹ Latinh (PARLATINO), Nhóm 77, G20, Diễn đàn Hợp tác Đông Á – Mỹ Latinh (FEALAC)...

Posted By thong read more

Bolivia

Thứ Tư, 07/03/2012 09:06
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Bô-li-vi-a giàu tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu khí, kẽm, thiếc, tung-xten, sắt, vàng).
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Chính phủ Bô-li-vi-a thực hiện những biện pháp tự do kinh tế mới của IMF, BID nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách cơ cấu theo hướng tư nhân hóa, giảm thiểu tối đa vai trò của nhà nước. Tuy đạt được những kết quả nhất định phát triển kinh tế thị trường nhưng khủng hoảng kinh tế-xã hội tiếp tục diễn ra sâu sắc, tài nguyên thiên nhiên quốc gia và hầu hết mọi lĩnh vực sản xuất kinh tế then chốt từng bước bị các thế lực kinh tế, tài chính quốc tế thâu tóm. Kể từ khi lên cầm quyền (1/2007), Tổng thống Ê-vô Mô-ran-lết tiến hành quốc hữu hóa một số các công ty dầu -khí nước ngoài, tăng thuế tài nguyên, giá khí đốt xuất khẩu; ký kết hàng loạt các hiệp định liên kết sản xuất, kinh tế, thương mại với Bra-xin, Vê-nê-xu-ê-la, Ac-hen-ti-na ..., triển khai các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nông thôn.

 

Posted By thong read more

Achentina

Thứ Tư, 07/03/2012 08:58
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan kinh tế:


Argentina là nước giàu tài nguyên thiên nhiên, dân trí cao, có nền công nghiệp đa dạng, nông nghiệp hướng tới xuất khẩu. Trăm năm về trước, Argentina đã từng là một trong những nước giàu nhất thế giới, trong suốt thế kỷ 20 Argentina chịu suy thoái kinh tế, thường xuyên thâm hụt ngân sách, nhập siêu, lạm phát cao, nợ nuớc ngoài và thoái lui đầu tư. Năm 2001-2002 đất nước rơi vào suy thoái nặng nề với gần 60% dân sống dưới mức nghèo khổ. Nhờ cải cách tiền tệ và tài khoá, và các chính sách thúc đẩy công nghiệp, Argentina dần khôi phục lại kinh tế. Năm 2007 Tổng thống Cristina FERNANDEZ DE KIRCHNER chủ trương tiếp tục coi trọng và ưu tiên phát triển công nghiệp (nhất là công nghiệp ô tô), đẩy mạnh xuất khẩu, quan tâm lớn tới nông nghiệp và thúc đẩy kinh tế đối ngoại. Năm 2008, chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mức độ tăng trưởng GDP giảm nhưng vẫn ở mức độ cao so với các nước trong khu vực. Từ năm 2010, kinh tế được phục hồi và tăng trưởng trở lại tuy còn chưa ổn định.

 

Posted By thong read more

U-crai-na

Thứ Tư, 07/03/2012 08:56
PDF. Print. Print.

1. Đặc điểm kinh tế tổng quan

 

Từ 2000 - 2007, kinh tế U-crai-na đạt mức tăng trưởng khá cao, khoảng 7- 9%/năm, năm 2004 đạt 12,5%, năm 2007 GDP tăng 7,3% (trừ năm 2004 do biến động chính trị trong nước chỉ đạt 2,4%). Năm 2008, U-crai-na bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu: trong 3 tháng cuối năm 2008 đồng Grip-na đã mất giá 50%, lạm phát tăng 30%, thị trường chứng khoán rơi tự do khiến U-crai-na buộc phải kêu gọi sự trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 16,4 tỷ USD nhằm ổn định hệ thống tài chính cũng như tạo điều kiện để hỗ trợ cho nền kinh tế. Tuy nhiên do chính phủ không đạt được tiến bộ trong cải cách nền kinh tế nên IMF lần thứ hai trì hoãn khoản trợ giúp tài chính. Giá thép sụt giảm và Ucraina chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu do vay nợ nước ngoài nhiều đã khiến tốc độ phát triển kinh tế giảm trong năm 2008, nền kinh tế thu hẹp hơn 15% trong năm 2009 và có dấu hiệu hồi phục trở lại trong năm 2010 do tăng trưởng xuất khẩu. Các điều kiện và yếu tố bên ngoài tiếp tục tác động tiêu cực đến những nỗ lực phục hồi nền kinh tế trong năm 2011.

 

Posted By thong read more

Thụy Sỹ

Thứ Tư, 07/03/2012 08:48
PDF. Print. Print.

1. Đặc điểm kinh tế tổng quan

Mặc dù là nước không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, địa hình chủ yếu là đồi núi, diện tích nhỏ, dân số ít, nhưng Thụy Sỹ là một trong những nước công nghiệp phát triển cao và có mức sống cao nhất thế giới. Các ngành kinh tế của Thụy Sỹ bao gồm dịch vụ (64,5 %), công nghiệp (34,0 %) và nông nghiệp (1,5 %). Thụy Sỹ nổi tiếng là một trong những trung tâm ngân hàng, bảo hiểm lớn của thế giới. Phần lớn các ngân hàng lớn, các hãng bảo hiểm nổi tiếng tập trung tại thành phố Zurich. Công nghiệp của Thụy Sỹ phát triển ở trình độ cao, tập trung vào các ngành cơ khí chế tạo (tuốc-bin thuỷ điện, đồng hồ tinh xảo), dệt, chế biến thực phẩm, dược, hóa chất, chế biến gỗ. Bơ, sữa và cỏ khô cho gia súc là những sản phẩm nông nghiệp quan trọng. Ngành du lịch và thuế thu từ các tổ chức quốc tế đóng trụ sở tại Thụy Sỹ cũng mang lại cho Thụy Sỹ nguồn thu tương đối lớn.

 

Posted By thong read more

Pages

Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ
Designed by Glofo.