Thứ Hai, 19/08/2019
064.358.3925 (VT)  
Chinese Vietnamese

Nga

Thứ Tư, 07/03/2012 07:22
PDF. Print. Print.

1. Tổng quan:

 

Trải qua những khó khăn của chuyển đổi, khủng hoảng nặng nề trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ 20, từ năm 2001 đến tháng 9/2008, nhờ vào sự tăng nhanh về giá cả của các mặt hàng nguyên liệu, năng lượng xuất khẩu, tăng trưởng đầu tư, nhu cầu tiêu dùng nội địa và có sự đầu tư thích đáng. Nền kinh tế Nga được phục hồi nhanh chóng và phát triển tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, trung bình 6-8%/năm. Nga trở thành một trong 10 nền kinh tế lớn trên thế giới, GDP năm 2007 đạt trên 1200 tỷ đôla, tăng 8,3 %. Lạm phát từ tốc độ phi mã trong những năm cuối thế kỷ 20 đến năm 2007 còn ở mức 12%. Thu nhập thực tế của người dân khoảng 14 000USD/năm (vào thời điểm 2009); thất nghiệp giảm gần một nửa. Chính phủ Nga đang triển khai thực hiện 4 chương trình quốc gia về cải thiện nhà ở, giáo dục, y tế và khoa học (khoảng 5 tỷ USD từ ngân sách nhà nước) và đầu tư thích đáng để hiện đại hoá quân đội.

 

 

Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, cũng như do giá dầu giảm mạnh, kinh tế Nga đã bị ảnh hưởng nặng nề. Nga còn có những vấn đề lớn về kinh tế - xã hội phải khắc phục như: cơ cấu kinh tế thiếu cân đối, tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên nhiên liệu (khoảng 50%), tỉ lệ thất thoát vốn còn lớn (khoảng trên 10 tỷ USD mỗi năm); lạm phát còn cao; an ninh xã hội chưa bảo đảm, tệ quan liêu, tham nhũng phổ biến, môi trường đầu tư, kinh doanh kém thuận lợi; khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, đầu tư thay đổi công nghệ mới và phát triển các ngành kỹ thuật cao còn hạn chế.

 

Trước tình hình đó, Chính phủ Nga đã đề ra Chiến lược phát triển đến năm 2020 và đã kịp thời đưa ra hai Chương trình chống khủng hoảng. Chương trình thứ nhất với những biện pháp mang tính cấp bách, trị giá 200 tỷ đôla nhằm cứu hệ thống tài chính ngân hàng khỏi đổ vỡ. Chương trình thứ hai bao gồm 55 điểm, trong đó đề ra các biện pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình tài chính và các ngành kinh tế quan trọng. Đồng thời, Nga sẽ tích cực tiến hành cải cách hệ thống luật pháp, hướng mạnh vào kích cầu nội địa, ưu tiên phát triển nông nghiệp, xây dựng, phát triển các tổ hợp công nghiệp quốc phòng, chế tạo máy nhằm bảo đảm đà tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội như nhà ở, việc làm, hỗ trợ thất nghiệp.

 

Nhờ các biện pháp chống khủng hoảng mạnh mẽ của Chính quyền Nga, kinh tế Nga đã có những tín hiệu tích cực, với GDP tăng nhẹ trở lại từ tháng 5 năm 2009 và thất nghiệp giảm dần.

 

Năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, về tình hình kinh tế-xã hội, nước Nga đã gặp một số khó khăn do khách quan và chủ quan như sau:

 

- Hạn hán, cháy rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi và trồng trọt trong nông nghiệp và tác động xấu ddeensw đời sống sinh hoạt của người dân.

 

- Xét toàn cục, đời sống của người dân có cải thiện, nhưng chưa được nhiều.

 

- Khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội nước Nga.

 

- Kinh tế nước Nga đang hối phục dần sau khủng hoảng. Dự trữ ngoại tệ đã tăng dần, Tính đến thời điểm 01/10/2010 đã đạt con số 500 tỷ USD.

 

- Xét về tổng thể, tình hình chính trị tại Nga vẫn ổn định. Các đảng phải chính trị hiểu nhau hơn và đã không có đụng độ ở phạm vi lớn trên mọi diễn đàn. Những cuộc hội kiến giữa người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ với lãnh đạo các đảng phái được duy trì trên tinh thần hợp tác, xây dựng, và hiểu biết lẫn nhau hơn. Đây chính là động lực quan trọng để đẩy mạnh công cuộc cải cách đất nước có hiệu quả hơn.

 

Về quan hệ với các nước trong Cộng đồng các Quốc gia độc lập, nhìn chung, Nga muốn khẳng định vị trí, vai trò của mình trong khối SNG, như giải quyết xung đột của Moldova với một số nước Cộng hoà tự trị, cung cấp viện trợ cho Kirgixtan, nhằm xúc tiến xóa bỏ căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ nước này; thành lập quỹ chống khủng hoảng của các tổ chức EvrAzEC; thành lập Liên minh thuế quan,... Từ 1/01/2010, Liên bang Nga cùng ca-dắc-xtan va Belarus thành lập Liên minh hải quan (LMHQ).

 

Sự hình thành Liên minh hải quan tạo ra không gian kinh tế chung của 3 nước (Nga, Ca-dắc-xtan va Belarus), nội bộ Liên minh phải mất thời gian giải quyết những vấn đề chưa thống nhất ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. Điều này cũng có nghĩa sẽ có nhiều thay đổi về chính sách thương mại, kinh tế, sẽ gây nên sự thiếu ổn định về chính sách, ảnh hưởng đến hoạt động trong hợp tác kinh tế thương mại trong thời gian tới.

 

Theo đánh giá của Bộ Phát triển kinh tế Nga, nền kinh tế Nga đang có xu hướng phát triển tích cực. Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2010 đã báo hiệu sự phục hồi sau thời kỳ suy thoái, bức tranh tổng thể nền kinh tế Nga đã trở lại những nền sáng có nhiều hy vọng trong tương lai. Đó cũng là tiềm năng của thị trường mở, tiêu thụ vốn có từ trước.

 

Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội Liên bang Nga năm 2010

 

(tốc độ tăng trưởng so với năm 2009 - %)

 

Chỉ tiêu

Tăng trưởng (%)

GDP

3,4

Chỉ số sản xuất công nghiệp

8,9

Sản xuất nông nghiệp

- 24,8

Đầu tư cơ bản

3,8

Sản lượng xây dựng cơ bản

-0,8

Lạm phát

6,2

Tiền lương danh nghĩa bình quân tháng (rúp)

20 479

Tiền lương thực tế

5,0

Thu nhập thực tế

4,8

Trao đổi ngoại thương (tỷ USD)

440,5 tăng 37,1%

Xuất khẩu (tỷ USD)

283,1, tăng 37,1%

Nhập khẩu (tỷ USD)

157,4, tăng 37,0

Thặng dư thương mại (xuất siêu)

125,7 tỷ USD

 

- Tăng trưởng Kinh tế đã thể hiện rõ rệt. Căn cứ số liệu năm 2010, so với cùng kỳ năm ngoái, GDP tăng 3,4%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 37,1% (đạt 440,5 tỉ USD). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng 37,1% (đạt 283,1 tỉ USD), nhập khẩu tăng 37% (đạt 157,4 tỉ USD), xuất siêu 125,5 tỉ USD.

 

- Nhà nước Nga quan tâm nhiều hơn đến tiến trình cổ phần hóa. Bộ Phát triển kinh tế Nga đã đệ trình Chính phủ phương án bán cổ phần nhà nước của các xí nghiệp trong giai đoạn 2011-2015. Theo đó Nga sẽ bán cổ phần nhà nước trong 854 doanh nghiệp cổ phần, 10 công ty trách nhiện hữu hạn và 117 Xí nghiệp tổng hợp nhà nước.

 

- Ngoài ra, Nhà nước tiếp tục cải cách hành chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các doanh nghiệp duy trì và cải thiện các tiêu chuẩn hoạt động kinh doanh.

 

2. GDP (ngang giá sức mua): 2,229 nghìn tỷ USD (2010)

 

GDP (tỷ giá hối đoái chính thức): 1,477 nghìn tỷ USD (2010)

 

Tốc độ tăng trưởng GDP: -7,9% (2009), 3,8% (2010)

 

GDP/người: 15.900 USD/người (2010)

 

3. Cơ cấu GDP


Nông nghiệp: 4,2%

 

Công nghiệp: 33,8%

 

Dịch vụ: 62% (2010)

 

4. Lực lượng lao động: 75,55 triệu (2010)

 

Nông nghiệp: 10%

 

Công nghiệp: 31,9%

 

Dịch vụ: 58,1% (2008)

 

Tỷ lệ thất nghiệp: 7,6% (2010)

 

5. Kim ngạch XNK


Kim ngạch xuất khẩu: 376,7 tỷ USD (2010)

 

Các mặt hàng xuất khẩu: xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu, khí gas tự nhiên, gỗ và các sản phẩm gỗ, sắt thép, hoá chất, sản phẩm phục vụ trong ngành quân sự.

 

Các đối tác chính: Hà Lan 10,62%, Ý 6,46%, Đức 6,24%, Trung Quốc 5,69%, Thổ Nhĩ Kỳ 4,3%, Ukraina 4,01% (2010)

 

Kim ngạch nhập khẩu: 237,3 tỷ USD (2010)

 

Các mặt hàng nhập khẩu chính: máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng, nhựa, sắt thép dược phẩm, thịt, đường, phôi sắt thép


Các đối tác chính: Đức 14,39%, Trung Quốc 13,98%, Ukraina 5,48%, Ý 4,84%, Mỹ 4,46% (2010)

Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ
Designed by Glofo.